Thứ Hai trong tuần thứ Nhất Mùa Chay

Lv 19:1-2,11-18; Tv 19:8,9,10,15; Mt 25:31-46

NGHĨ VỀ NGÀY PHÁN XÉT CHUNG

Qua Trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu mạc khải cho ta thấy khung cảnh của ngày cánh chung. Trong ngày đó, chính Người sẽ hiện đến như một vị thẩm phán xét xử muôn dân. Người sẽ xét xử mỗi người dựa trên hành vi của họ đối với tha nhân.

Và rồi, với  việc mạc khải về mầu nhiệm cánh chung, Chúa Giêsu cũng chỉ cho chúng ta thấy con đường bước vào Nước Trời. Con đường đó chính là việc thực thi bác ái. Bác ái không chỉ thực thi cho những người thân cận, mà còn trải rộng ra với tất cả mọi người, đặc biệt là cho những người nghèo hèn, bé mọn.


Trang Tin Mừng hôm nay vén mở cho ta thấy một lối hiện diện khác của Đức Giêsu. Ngài không chỉ hiện diện nơi tấm bánh thánh, nơi tâm hồn ta, nơi Giáo hội, mà Ngài còn ở nơi những người đói, khát, khách lạ, trần truồng, đau yếu, ngồi tù. Khuôn mặt của Ngài xem ra chẳng có gì cao quý, uy nghi, sáng láng, nhưng đầy nét đau khổ, nhục nhằn, phiền muộn.Đức Giêsu ở đây không phải là người ban phát đầy quyền năng, mà là người ăn xin yếu đuối ngửa tay cần ta giúp đỡ..

          Tin Mừng hôm nay tập trung về diễn tiến trong cuộc phán xét chung. Đây là quang cảnh thu gọn của cuộc đại phán xét. Cuối bài giảng của Chúa Giêsu trong Tin Mừng Matthêu từ chương 5 đến hết chương 7, Thánh sử đã loan báo về sự phán xét đối với những môn đệ chân chính và khẳng định Đức Tin KiTô Giáo là một hành động được tóm tắt bằng Tình Yêu đối với tha nhân.

            Dụ ngôn về “cuộc phán xét chung” là một trong chuỗi dụ ngôn có nội dung nói lên cách thức chuẩn bị biến cố cánh chung như thế nào và sự tỉnh thức Chúa đòi hỏi mỗi người.

           Câu 31 mở đầu việc ngự đến trong vinh quang của Con Người có các Thiên Thần theo sau hầu hạ. Trước mặt Con Người là một đám đông hỗn độn gồm cả chiên lẫn dê. Và chính Con Người sẽ là người phân xử, tách biệt và lựa chọn: chiên ở bên này và bên kia là dê. Ở câu 32, tác giả đã nêu lên sứ vụ mục tử của Con Người. Người hiểu rõ và biết được sự khác nhau giữa chiên và dê. Đây là lúc vị mục tử sẽ phân loại bầy chiên dê hỗn tạp này, trong uy quyền và công bằng trong xét xử. Tiêu chuẩn của việc phân loại dựa trên lòng yêu mến của thần dân đối với Vua là cách đối xử của họ với anh em mình (c.40 và 45). Phần thưởng hay hình phạt đều dựa trên cách đối xử ấy.

             Mở đầu lời nói mà Đức Vua dành cho những người thuộc bầy chiên mà Người chăn dắt rằng: “ Những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từthuở tạo thiên lập địa (c. 34). Cách xưng hô của Đức Vua đủ cho chúng ta biết những người bên phải là người được Chúa Cha tuyển chọn và yêu thương. Họ được chúc phúc “vì  xưa Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm. (c. 35-36). Đức Vua kể hàng loạt việc tốt, việc lành mà họ đã cư xử với những người anh em đồng loại mà được Ngài kể như là làm cho chính Ngài “mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (c.40).

Chính Ngài xác định người anh em bé nhỏ là hiện thân của Ngài trên trần gian. “Người anh em bé nhỏ” mà chúng ta thấy Chúa nêu lên là: Người đói khát, người không có áo mặc, người không có nơi trú chân, người đau bệnh và người bị tù đày. Họ thuộc tầng lớp thấp kém trong xã hội, bị xã hội khinh khi, ruồng bỏ... Chính Chúa ở trong họ. Chính Chúa cần đến sự giúp đỡ, ân cần của chúng ta khi họ bị đói khát, bị bỏ rơi, bị xem thường. Chính Chúa cần chúng ta khi họ lang thang trên vỉa hè, đường phố trong những đêm giá lạnh, cô đơn. Chính Chúa cần đến chúng ta khi họ đang phải chống trả với những căn bệnh thời đại, bất trị. Chính Chúa cần chúng ta khi họ bị quên lãng trong chốn tù đày, bị xã hội gắn cho một cái mác “đi tù về...” và họ sống trong mặc cảm không sao vươn lên để làm lại cuộc đời.

Ngài gọi những người khốn cùng trong xã hội là anh em nhỏ nhất của Ngài. Làm cho họ là làm cho chính Ngài, chối từ họ là chối từ chính Ngài. Chúng ta sẽ bị xét xử vào ngày tận thế dựa trên tình yêu. Hôm nay ta có thể gặp Đức Giêsu ở nhà thương, nhà tù, nơi trại tị nạn, nơi gần một tỷ người bị đói trên thế giới, nơi bao người thiếu nước sạch để dùng.Hãy kính trọng trao cho Ngài những gì mình đã chắt chiu

          Từ câu 41-45, Thánh sử cũng chỉ lập lại những sự kiện, những câu hỏi đối đáp như trên, nhưng tình thế lật ngược 1800  chỉ vì cách cư xử khác biệt của “những kẻ bên trái”. Danh từ những người được chúc phúc , được chuyển thành “quân bị nguyền rủa” và nơi chốn cũng thay đổi từ “Vương quốc dọn sẵn” nay trở thành “chốn lửa đời đời, nơi dành cho Ác Quỷ và đồng bọn”.

          Dụ ngôn kết thúc trong câu 46 đủ nói lên “cõi đi về” của mỗi người tuỳ theo cách họ cư xử với anh em đồng loại khi còn sống. Suốt dụ ngôn, chúng ta không hề thấy một lời van xin hay một cử chỉ thương xót. Lúc này chỉ còn  sự công bằng, thưởng phạt mà thôi.

Và rồi ta nhận ra Người vừa là một vị thẩm phán công minh, vừa là vị Vua tình yêu. Chính vì tình yêu mà Người đã xuống thế làm người để cứu độ nhân loại. Sống trong thân phận con người, Người luôn thông cảm chạnh lòng thương xót và giải thoát con người khỏi những đau khổ mà họ đang gánh chịu. Người mời gọi con người bước vào con đường tình yêu ngang qua việc biết nhạy bén trước những đau khổ và nhu cầu của người khác, đồng thời biết mau mắn giúp đỡ và quảng đại cho đi mà không mong đáp đền.

Bài học của trang Tin Mừng này đã rõ: Đến cuối đời, chúng ta sẽ bị phán xét về tình yêu. Những người công chính là những người đã chu toàn Luật Thiên Chúa, như chính Đức Giêsu đã diễn tả qua điều răn lớn nhất. Một  lần nữa, ở đây, Người lại đồng hóa tình yêu đối với tha nhân với tình yêu đối với Thiên Chúa. Để những việc ta làm cho anh chị em được gọi là “tốt”, ta hãy làm việc ấy cho chính Thiên Chúa. 

Chúa Nhật thứ Nhất Mùa Chay

St 9:8-15; Tv 25:4-5,6-7,8-9; 1 Pr 3:18-22;

Mc 1:12-15


LỜI MỜI GỌI SÁM HỐI
 Chúng ta vẫn thường nghe hát: Lạy Chúa Con đường nào Chúa đã đi qua, con đường nào Ngài ra pháp trường!
 Và rồi, trong tâm thức và trong niềm tin của mỗi người Kitô giáo, mỗi người chúng ta, dù giàu hay nghèo, dù sang hay hèn, vẫn thao thức để rồi mình được đi lại cái con đường mà ngày xưa Chúa đã đi. Cái con đường mà từ Giêrusalem lên đỉnh đồi Canvê, để ít ra chúng ta cùng cảm nghiệm được cái hành trình thương khó của Chúa Giêsu.
Và cũng có một số người được cái may mắn, được cái diễm phúc là đã được đi lại cái con đường Thập Giá mà ngày xưa Chúa Giêsu đã đi.  
Và rồi chúng ta thấy : Ngày xưa Giuđa cùng với  11 tông đồ cũng đã đi lên cái con đường mà Chúa Giêsu đã đi, những người lãnh đạo Do Thái cũng đi, và có hàng ngàn người Do Thái  đã đi theo Chúa Giêsu lên trên con đường thập giá Canvê.  
Nhưng mà mọi người đi trong cái tâm thức như thế nào?
Mỗi người đi trong cái tâm thức gì và mang theo cái ấp ủ gì trên con đường từ Giêrusalem lên Canvê.
Những người Do Thái họ cũng đi nhưng mà rồi họ lên án Chúa Giêsu và họ tìm mọi cách để mà giết Chúa Giêsu.
Những người lãnh đạo Do Thái thì họ đi, nhưng rồi cũng vì quyền lợi để họ xâu xé Chúa Giêsu và đặc biệt Juđa  bi đác nhất:  Juđa đã bán Chúa Giêsu.
 Nếu mà cuộc đời của chúng ta đi theo hành trình lên  Canvê mà, chúng ta cũng bán CHÚA, mà chúng ta cũng tính toán như Juđa   thì chán lắm.
Và rồi trước đây  năm 1975 có một số người kiếm cớ đi hành hương Giêrusalem để mà buôn lậu. Và rồi từ những cái suy nghĩ đó, từ những cái nhãn giới đó. Chúng ta đặt vấn đề:  đi hành hương Giêrusalem  có phải đơn giản chỉ là đi lại con đường hành hương mà ngày xưa Chúa Giêsu đã đi, xét về mặt địa lý như các công ty du lịch, như các cá nhân và tập thể ngày mỗi ngày vẫn ao ước bước chân qua Giêrusalem.
Thế nhưng,  chúng ta không đặt vấn đề Địa lý ở đây, nhưng mà chúng ta đặt vấn đề khác ở bên dưới cái hành hương địa lý, bên dưới cái con đường sỏi đá gạch cát mà Chúa Giêsu phải đi.

Khi Chúa Giêsu lên Giêrusalem, từ Giêrusalem đi lên Canvê, Chúa Giêsu mang trong mình  cái tâm tư nào ?
Chúng ta thấy nếu mà đọc thoáng Tin Mừng của Chúa Giêsu, Chúa Giêsu đi lên Canvê, theo Thánh Máccô, thì chúng ta khó cảm nhận lắm.
Bởi vì CHÚA Giêsu được dẫn vào hoang địa để sống với dã thú. Sống với dã thú thì sợ lắm!
Bởi vì, không khéo sống với dã thú thì nó ăn thịt mình trước khi bị cám dỗ rồi!
Nhưng mà rồi  Chúa Giêsu Vào hoang địa để làm gì ?
Khi đọc lại những trang đầu của Thánh Kinh và đặc biệt chúng ta thấy hình ảnh của ông bà nguyên Tổ được tạo dựng.  Ông bà nguyên tổ được tạo dựng và con người  được bình an , được hưởng bình an của Chúa từ Vườn Địa Đàng, được hưởng  tất cả  những gì mà Thiên Chúa tạo dựng.  
Thế nhưng rồi, chính vào cái giờ phút mà ông bà phạm tội, ông bà  đã cắt đứt hiệp thông với Thiên Chúa, thì ngay cả như hai ông bà cũng đã cắn xé nhau và đổ lỗi cho nhau:  «không phải tôi».  
Và rồi, con cái của hai ông bà cũng là anh em ruột thịt, nhưng cũng lại chém giết nhau. Hai ông bà sống chung với dã thú, với thiên nhiên. Nhưng mà rồi, những cái dã thú, thiên nhiên đó nó không có thù nghịch với 2 Ông Bà.  Chỉ trừ khi hai ông bà phạm tội, thì hai ông bà đã biến Vườn Địa Đàng thành rừng rú, thành nơi thú dữ.
Và rồi Chúa Giêsu, Chúa Giêsu thì ngược lại khi Chúa Giêsu đi vào rừng rú thì không phải rằng là để biến nó thành nơi dữ tợn, mà Chúa Giêsu biến rừng rú thành địa đàng. Chúa Giêsu đã sống chung với  dã thú một cách vui vẻ,  mà thánh Marcô đã diễn tả: khi mà Ngài ở trong hoang  địa và Ngài rao giảng:  Nước Thiên Chúa đã đến gần, anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng, tin vào Phục Sinh !
 Chúa Giêsu trên nẻo đường Palestina với những ước mơ và nhiều ước mơ: « Thầy ước gì  thấy nén lửa vào thế gian và lửa đó bùng cháy lên». Ước mơ cho một giấc mơ mới , một thế giới mà  trong đó con người ta cư xử với nhau một cách là người hơn, một cách bác ái hơn, một cách yêu thương hơn.
 Và rồi một ngày nào đó,  trong viễn tượng của tương lai, thế giới cũng sẽ là một nơi đầy niềm vui, đầy tiếng cười, đầy tình yêu. Đó là ngày cánh chung. Và đời sống Kitô hữu của chúng ta là như vậy đó.
 Thánh Phaolô, chắc có lẽ rất đơn giản, để định  nghĩa về cuộc đời người Kitô hữu của chúng ta như thế này: « Anh em hãy mang trong mình tâm tư  như Đức Giêsu Kitô”, có nghĩa  rằng là:
Đức Giêsu Kitô sống như thế nào, thì người Kitô Hữu cũng sống như thế đó!  Chúa Giêsu mơ ước như thế nào thì người Kitô Hữu cũng mơ ước như Ngài. Chúa Giêsu có tâm tư như thế  nào  thì người Kitô Hữu  cũng có tâm tư như thế.
Để rồi từng bước trong cuộc đời của chúng ta đi đến cơ quan, đi đến trường học, và thậm chí đi du lịch hay đi thăm người này người kiachúng ta cũng mặt lấy tâm tình  của Chúa Giêsu, mơ ước với Chúa Giêsu, thao thức với như Chúa Giêsu thì những con đường,những nẻo đường mà chúng ta đi đó, lại trở thành con đường của Hành Hương. Chứ không phải đi lên Giêrusalem, đi về tới Giêrusalem mới là hành hương!  Ngày mỗi ngày trong đời thường của chúng ta, chúng ta vẫn là  hành hương.
 Và rồi chúng ta suy nghĩ về những cái cơn Cám Dỗ mà nhiều nhà thần học là cám dỗ Messia.
Satan  không hề giới thiệu về những điều xấu xa về điều ác về sự dữ. Thế nhưng Satan giới thiệu về chân lý, sự thật  xem ra rất là  hấp dẫn và rất là thuyết phục. Những điều satan đưa ra rất đẹp, nhưng thật sự ra những điều đó chỉ là nữa sự thật thôi!
Và trong cuộc đời của chúng ta nguy hiểm nhất khi sự thật chỉ được trình bày nữa sự thật còn lại là úp úp mở mở. Nếu là đen hết thì người ta sẽ khó bị cám dỗ nhưng nó cứ mờ mờ, ảo ảo. Để nghe những lời cám dỗ của satan, người ta lại thích.
Những cơn Cám Dỗ của Chúa Giêsu, Thánh Máccô nói là gì?
Ngài chịu satan cám dỗ, còn theo Mátthêu và Luca thì Chúa Giêsu có 3 cơn Cám Dỗ. Và 3 cơn cám dỗ này nó rất thực tiễn, thực tế trong cuộc đời của con người.
Rõ ràng, như  chúng ta mà nghỉ ăn một ngày, hai ngày là đói lắm rồi!  40 Ngày thì quả thật cực kỳ đói! và satan nói với Chúa Giêsu:  Hãy biến đá thành bánh.
Đó là cái cơn cám dỗ về kinh tế.  
Không phải ngày xưa Chúa Giêsu mới bị cám dỗ về kinh tế, như ngày hôm nay cả thế giới người ta bị cơn cám dỗ về kinh tế rất nhiều.
 Người ta cứ tưởng là phát triển kinh tế và kinh tế phát triển và sẽ giải quyết được vấn đề thao thức và nhu cầu của con người. Và cách riêng trong những nước nghèo như Việt Nam, ai cũng ước ao đất nước mình phát triển.
Đó là chân lý đó!  nhưng mà thật sự, chân lý chỉ là một nửa sự thật thôi. Thực tế rằng,  không phải phát triển kinh tế là chúng ta có một thế giới mới đâu.
 Cách đây vài chục năm, khi chúng ta nhìn lại một sự thật mà không ai dám nhìn: đó là ngay tại Sài Gòn thôi! chúng ta thấy khoảng cách giữa giàu và nghèo giữa sang và hèn nó cách li  quá lớn!
Và khi con người chạy theo toàn cầu hóa thì có cả tỷ người nghèo bị  loại ra khỏi thế giới này. Và không hề được hội nhập với những người giàu có.
Thế giới ngày hôm nay, chúng ta vẫn nhìn thấy nơi những thành phố lớn, bên cạnh những đường hoa lộng lẫy những cái đèn Phố chiếu sáng đó thì bên trong đó có những cái Ngõ hẻm cái hang cùng ngõ hẻm, nơi đó lại có những cái quán cơm bình dân, nơi đó có những  tô hủ tiếu gõ, và nơi đó có những người nghèo.
Cách ly chứ không phải rằng là hạnh phúc bình an. Khi kinh tế phát triển, dĩ nhiên có phát triển nhưng đằng sau lưng sự phát triển đó lại là một khoảng cách giàu nghèo.  
Và rồi chúng ta thấy, khi mà Chúa Giêsu được đưa lên nóc. Chúa Giêsu được ma quỷ cám dỗ rằng là : nếu mà là con THIÊN Chúa thì…
Chúa nói nếu cần thì chỉ cần sai thiên thần đến thôi!
Và đó chính là cái cơn cám dỗ về kỹ thuật.
Con người ta thật sự ra, ngày hôm nay rất giỏi, rất thông minh. Người ta có thể bay lên tới không trung và  người ta có thể biến thế giới này thành một cái ngôi làng thu nhỏ thôi. Và qua phương tiện truyền thông,  giờ này bên kia của quả đất người ta có thể nói chuyện với nhau. Người ta có thể nhìn thấy nhau người ta có thể cười với nhau, người ta có thể khóc với nhau.  
Và Cám Dỗ đó là cái cám dỗ của người trẻ ngày hôm nay. Người ta cứ tưởng phát triển kỹ thuật là phát triển tất cả. Chân lý đó thật sự ra chỉ nửa chân lý thôi!
 Khi chúng ta nhìn thấy phát triển thì phát triển về dân số, về môi sinh, về vấn đề về nguyên tử cũng phát triển. Chính khi con người lo lắng quá về kỹ thuật và chính con người là tác giả thì chúng ta thấy tội nghiệp cho con người.
Dân số ngày hôm nay phát triển để rồi bao nhiêu vấn đề nảy sinh ra. Những cái vấn đề của nguyên tử và đặc biệt của môi sinh, môi trường môi trường ô nhiễm đến mức báo động mà  con người  vẫn vui vẻ sống với nhau.
Đâu phải phát triển kinh tế kỹ thuật là tốt đâu? Kỹ thuật phát triển và kèm theo đó là hóa chất, là những chất bảo quản, là những phụ gia và nghe đâu, mới nghe đây là cá mà còn giả nữa thì thôi!  
Con  người ta sống giả tạo với nhau, càng phát triển về kỹ thuật thì càng gây hại cho con người bấy nhiêu.  Bởi vì, con người thông minh nhưng không mặc lấy cái tâm tình của con người và đã bán bỏ lương tâm .

Và rồi satan dẫn Chúa Giêsu lên núi cao và chỉ cho Ngài về mọi sự và cho Ngài cai quản tất cả . Đơn giản là qùy thờ lạy nó thôi!  .
Đó là cơn cám dỗ về quyền lực .
Người ta thường nghĩ rằng có quyền sẽ làm được tất cả, và ngay bản thân của Giáo hội cũng vậy. Giáo hội cũng tưởng rằng mình có quyền mình sẽ làm được tất cả nhưng mà rồi,  thời trung cổ chúng ta thấy ở  châu Âu, đi đâu cũng có chiến tranh.  Quyền lực của Giáo hội lúc đó rất mạnh, thế như thiệt sự  quyền lực của Giáo hội lúc đó có giải quyết được tất cả hay không?
Giáo hội nắm quyền, nhưng có giải quyết được những điều mà Chúa mơ ước hay không? Là mọi người hiệp nhất yêu thương hay không?  và chính bản thân Đức Giáo Hoàng phải xin lỗi nhân loại về những sai lầm của Giáo Hội  trong thời thánh chiến.  
Và chúng ta thấy, những nhà độc tài Phát xít , Hitler , Stalin, quyền lực trong tay như thế nhưng mà có biến đổi 1 thế giới mới như lòng Chúa mong ước hay không? một thế giới hòa bình, một thế giới yêu thương hay không? nhưng hay là người ta biến đổi thành một cái nhà tù khổng lồ.
 Chúng ta thấy các cơn cám dỗ đó, nếu mà chúng ta để ý Lời Chúa có tầm vóc rất lớn! Chứ không phải là những chuyện nhỏ nhen những truyện đọc qua đường.
Khi chúng ta khám phá ra chúng ta thiếu cái gì, để rồi chúng ta cân chỉnh cuộc đời của chúng ta.
  Các-mác nói:  Tôn giáo là trái tim của một thế giới  không có trái tim. Linh hồn của một thế giới không có linh hồn.                  Tôn giáo là liều thuốc phiện. Thật là như thế!
Con người không có linh hồn là con vật . Thế giới mà có kỹ thuật mà không có trái tim thì chỉ là cú vọ với nhau thôi.   Thế giới kinh tế  mà không có linh hồn là thế giới của loài heo, loài bò thôi! Thế giới của quyền lực mà không có con tim là một thế giới của dã thú!
   Chúng ta đang thiếu cái gì?  Chúng ta đang thiếu điều mà Chúa Giêsu ao ước. Đó là bám vào Lời Chúa, để Lời Chúa được loan truyền.  
 Và lời mời gọi hãy sám hối và tin vào Tin Mừng vẫn vang vọng bên tai của mỗi người chúng ta. Chúng ta hãy giũ bỏ tất cả nhân  sinh quan, thế giới quan cũ kỹ đó, mà tiếp cận với Lời Chúa.
Và đặc biệt trong mùa Chay này Lời Chúa và Giáo Hội nhắc ta, cùng với ơn của Chúa Thánh Thần biến đổi cuộc đời của chúng ta, để chúng ta bước đi trong cuộc sống hành hương này.
Ngày mỗi ngày chúng ta luôn luôn hướng lòng về Chúa và đặc biệt chúng ta mang tâm tư của Chúa mang thao thức của Chúa:  TA ném lửa vào thế gian và ước chi lửa  đó bùng lên.
 Và  xin  cho mỗi người chúng ta,  ngày mỗi ngày yêu mến Lời Chúa, lắng nghe Lời Chúa và sống Lời Chúa.
Để rồi, mỗi người góp một chút bàn tay của chúng ta, để trong cuộc hành hương này chúng ta ai cũng vào được nhà cha và đặc biệt mỗi người chúng ta:  góp phần kiến tạo một thế giới hòa bình, một thế giới yêu thương, như lòng Chúa mong muốn. Amen
 Lm Huệ Minh



CHÚA NHẬT I MÙA CHAY (18/02)


Mc 1, 12-15

Kính lạy Chúa Giêsu Thánh  Thể,

Giữa không khí ấm áp, rộn ràng của mùa xuân đất trời, Giáo Hội mời gọi chúng con tiến vào hành trình sa mạc thiêng liêng trong 40 ngày trong chay tịnh và nguyện cầu. Mùa Chay là thời gian để chúng con dừng lại, hồi tâm, trở về. Trở về đối với người Kitô hữu chúng con là là trở về với chân lý về con người. Con người được tạo dựng để sống cho Thiên Chúa. Chỉ khi nào con người sống trọn cho Thiên Chúa, con người mới thực sự tìm kiếm chính mình. Chỉ khi nào con người tiêu hao vì Thiên Chúa, con người mới đạt được tầm vóc viên mãn của mình. Vâng Chúa ơi, 40 ngày của cuộc xuất hành đã bắt đầu, chúng con được bước vào mùa hồng phúc, mùa của ngày được cứu rỗi, là thời gian chiến đấu như chính Chúa Giêsu đã chiến đấu với những cơn cám dỗ trong sa mạc. Đây không phải là cám dỗ một lần thay cho cho một đời, nhưng là cuộc cám dỗ triền miên trọn cả kiếp người. Wendell Philips đã viết: “Kitô giáo là một trận chiến chứ không phải là một giấc mơ”. Xã hội càng văn minh tiến bộ, chúng con càng gặp nhiều cám dỗ: cám dỗ của thân xác đòi hỏi, cám dỗ của hưởng thụ và chiếm đoạt, của đam mê và phóng túng….Đối diện với những cám dỗ như vậy, chúng con cần nhiều ơn Chúa mới có thể chiến đấu. Quỳ trước Thánh Thể tình yêu, nguyện xin Chúa Giêsu Thánh Thể làm ngọn hải đăng chiếu sáng và dẫn lối để chúng con không lạc bước giữa một xã hội tục hóa hôm nay. Giờ đây chúng con xin được cảm mến và thờ lạy Thánh Thể Chúa.

Lạy Chúa, Chúa đã sống 40 ngày chay tịnh và chịu nhiều cám dỗ nhưng Chúa đã chiến thắng. Xin cho chúng con cũng luôn biết tin tưởng và phó thác vào Chúa để chúng con biết trải nghiệm nhiều hơn sau mỗi cơn thử thách; vững tin hơn sau mỗi lần chiến thắng; và không thất vọng sau mỗi lần vấp ngã. Xin ban thêm tình yêu và sức mạnh để chúng con biết chiến đấu can trường trong 40 ngày của mùa chay thánh trong việc chay tịnh, hãm mình và cầu nguyện.


Thứ 2 sau CN I MC (19/02)

Mt 25, 31-46

Kính lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Cuộc sống chỉ thực sự hạnh phúc và ý nghĩa khi mỗi người biết quan tâm và chia sẻ cho nhau. Bởi khi hạnh phúc được chia sẻ thì hạnh phúc tăng lên, niềm vui được trao ban thì niềm vui càng ý nghĩa và lan rộng. Như thánh Phaolô dạy: “Hãy vui với người vui, khóc với người khóc, hãy chia cơm sẻ áo cho người đói rách”. Vì tất cả những gì tốt đẹp chúng con làm cho tha nhân là làm cho chính Chúa. Chính trong tha nhân chúng con bắt gặp hình ảnh Chúa. Điều này nhắc nhớ chúng con đến vị Thánh Martin de Porres, được xem là vị thánh tiền phong của của công cuộc bác ái xã hội. Thánh nhân đã có lòng yêu thương người từ nhỏ. Lợi dụng những lần mẹ sai đi chợ mua đồ lặt vặt, Martin đã xén bớt tiền để đem biếu cho những người mà cậu nghĩ là cùng khổ hơn. Khi được làm trợ sĩ của dòng Đa minh, thầy đã hết sức sống bác ái giữa cộng đoàn. Khi đã làm xong bổn phận với cộng đoàn, thầy thường đi thăm bệnh nhân và có khi lại đi lang thang ngoài đường để giúp những người nghèo khổ cô đơn. Gặp được một người quần áo rách rã tơi, mình đầy ung nhọt hôi hám và mắc phải chứng bệnh đau nhức cùng cực, Thầy bèn cõng người đó về phòng riêng của mình trong tu viện, đặt nằm thoải mái trên giường, ra sức tắm rửa, thay quần áo, cho ăn uống… Thầy chăm sóc bệnh nhân một cách tận tụy như chăm sóc Chúa Giêsu. Khi bị một tu sĩ khác chê cươi và trách móc vì đưa một người ăn mày ghê tởm về phòng và lo lắng quá sức đàng hoàng như vậy, thầy đã đáp lại: “giường chiếu của tôi có dơ bẩn thì chỉ mất một chút xá bông là giặt sạch. Nhưng các vết thương đầy máu mủ do cái xã hội bất công và ích kỷ gây nên thì cảt suối nước mắt của nhân loại cũng không rửa sạch được”. Điều gì đã thúc đẩy thánh nhân thực hiện những công việc nhỏ bé tầm thường nhưng cao thượng ấy nếu không phải chính là Ngài nhận ra chính Chúa đang hiện diện nơi những người đau khổ bất hạnh, và cảm nghiệm sâu sắc lời dạy của Chúa: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”(Mt 25, 40).  Quỳ trước Thánh Thể Chúa giờ này, chúng con xin chúc tụng, ngợi khen và tôn vinh Chúa là Đấng giàu lòng nhân ái và yêu thương.

Lạy Chúa, Chúa đã đi bước trước nêu gương sáng để dạy cho chúng con biết trao ban yêu thương một cách vô vị lợi. Xin cho chúng con cảm nếm được hạnh phúc đích thực khi phục vụ tha nhân, và ý thức rằng tha nhân chính là nơi chúng con có thể gặp gỡ Chúa. Xin giúp chúng con biết tận dụng mùa chay này để sửa đổi đời sống và uốn nắn lòng chúng con nên giống trái tim Chúa mỗi ngày một hơn.

Thứ 3 sau CN I MC (20/02)

Mt 6, 7-15

Kính lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Một người đàn ông nọ đào được trong ruộng mình một bức tượng bằng đá cẩm thạch tuyệt đẹp. Ông mang bức tượng bán cho một nhà sưu tập đồ cổ. Nhà sưu tập khen ngợi và mua với giá rất cao. Bỗng dưng được món tiền lớn, người đàn ông tự nhủ: “số tiền này có ý nghĩa cho cuộc sống biết bao. Làm sao nhà sưu tập kia lại dám bỏ ra số tiền lớn để đổi lấy một cục đá vốn bị chôn vùi dưới đất suốt bao nhiêu năm?” Cùng lúc ấy, nhà sưu tập say sưa ngắm bức tượng và cũng tự nhủ: “Thật là một tuyệt tác, bức tượng là những giấc mơ của những linh hồn, ta thực sự may mắn khi có được bức tượng này. Làm sao người đàn ông kia có thể đổi bức tượng để lấy số tiền là thứ vật chất vô nghĩa”. Cùng ngắm một bức tượng nhưng hai người đàn ông trên có thái độ và cách nhìn khác nhau. Người sưu tập đồ cổ cảm nhận vẻ hoàn mỹ của tác phẩm, còn người kia thì thấy đó là khối đá vô hồn. Vâng lạy Chúa, cái đẹp là một thực tại hiện hữu chan hòa trong cuộc sống cho chúng con ngắm nhìn. Khởi đầu một ngày mới chúng con được ngắm nhìn ánh bình minh đánh thức vạn vật cỏ cây hoa lá, được thưởng thức tiếng hót của chú chim non, tiếng rì rào của gió vui đùa trên cây, điệu nhạc róc rách của con suối nhỏ. Vẻ đẹp thiên nhiên là phần thưởng của Thiên Chúa dành cho chúng con. Có một vẻ đẹp chúng con không thể tri giác nhưng phải cảm nhận bằng con tim yêu mến, đó là cái đẹp đến từ Thiên Chúa. Thi hào Kahlih Gipram vị tiên tri của xứ Liban đã từng chiêm nghiệm: “Chúng ta đến để sống trong vinh quang của tình yêu và ánh sáng của cái đẹp là những phản ảnh của Thiên Chúa”. Cùng với vạn vật, đại dương, rừng rậm và núi đồi, ông luôn cầu nguyện và chiêm ngắm Thiên Chúa như nguyên lý của cái đẹp. Ông đã xác tín rằng: “Khi cầu nguyện chúng ta không phải xin Thiên Chúa điều gì, vì Người biết rõ những thiếu thốn ấy trước khi ta nghĩ tới. Người là điều chúng ta đang thiếu, nên khi ban chính mình, Người đã cho chúng ta tất cả”.  Cảm nhận được vẻ đẹp sâu thẳm của Thiên Chúa chúng con xin hợp lời cùng muôn triều thần thánh dâng lên Chúa lời cảm tạ, chúc vinh tình yêu Thánh Thể Chúa.

Lạy Chúa, Chúa cho chúng con thấy, cầu nguyện không chỉ là kéo Thiên Chúa đối diện với nhu cầu của mình, mà đúng hơn là đưa bản thân mình vào trong chương trình của Thiên Chúa. Xin thương củng cố đức tin nơi chúng con, để được sống kết hợp với Chúa luôn mãi như ĐHY Phaxicô Nguyễn Văn Thuận đã chia sẻ: “Hoạt động mà không cầu nguyện là vô ích trước mặt Chúa, máy móc tự động có thể làm hơn chúng con.Cầu nguyện là nền tảng đời sống thiêng liêng. Lúc cầu nguyện chúng con kết hợp với Chúa, như một bóng điện sáng là nhờ kết hợp với máy phát điện. Và bí quyết nuôi dưỡng đời sống Kitô phải là cầu nguyện”. (Đường Hi vọng)

Thứ 4 sau CN I MC (21/02)

Lc 11, 29-32

Kính lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Thánh Phanxicô vị thánh nghèo có lòng sốt mến như thiên thần đã từng kêu lên: “Đấng từ nơi cao sang mà lại hạ mình xuống nơi sâu thẳm. Đó thật là một điều kỳ diệu lạ lùng. Chúa tể càn khôn con Thiên Chúa cực thánh, tự hạ đến độ ẩn mình trong hình bánh vì phần rỗi chúng ta. Ôi! Sự khiêm nhường thánh thiện và thánh thiện khiêm nhường”. Giây phút này, trước nhiệm tích Thánh Thể, chúng con cũng xin được mặc lấy tâm tình của thánh nhân để hiệp cùng các thiên thần đang chầu kín chung quanh bàn thờ mà dâng lên Chúa tâm tình ca khen, chúc tụng tình yêu Chúa.

Lạy Chúa, có một món ăn các nhà hàng nhiều sao không quen thết đãi, nhưng những quán ăn tôn giáo lại xem như đặc sản của mình. Món ăn ấy người đời không quen thưởng thức, nhưng kẻ có đạo lại tìm đến ăn như một thứ lương thực sớm tối. Món ăn ấy không có trong thực đơn của những đầu bếp trứ danh nhưng luôn gặp thấy trên bàn ăn của Giáo Hội lữ hành. Món ăn ấy đơn giản lắm nhưng lại là món ăn có đầy đủ mọi hương vị chua cay mặn chát ngọt bùi của quá khứ hiện tại tương lai. Món ăn chữa bệnh nhưng cũng là món ăn bổ dưỡng tâm linh. Đó là món ăn ‘sám hối’ mà Chúa muốn dọn sẵn và thết đãi chúng con trong mùa chay thánh này. Đức cố GM Giuse Vũ Duy Thống đã từng chia sẻ: “Trải dài lịch sử cứu độ, tình yêu Chúa cúi xuống với con người được diễn tả bằng lòng thương xót, thì tâm tình con người vươn lên với Chúa lại được thể hiện bằng sự sám hối. Đến nỗi có thể nói lòng thương xót của Chúa đợi chờ lòng sám hối của con người, và ngược lại, lòng sám hối của con người thúc đẩy lòng thương xót của Chúa” (trích với cả tâm tình). Biết bao lần chúng con vấp ngã, lỗi phạm rồi lại đứng lên, vậy mà Chúa vẫn tha thứ, vẫn yêu thương, vẫn nâng đỡ. Chúa không trách phạt chúng con, chỉ cần chúng con biết tín thác và quay về với Chúa. Ước gì mùa chay là thời gian thuận tiện để chúng con hồi tâm và suy nghĩ về cuộc đời mình. Và  biết bắt chước dân thành Ninivê và nữ hoàng phương nam sốt sắng nghe Lời Chúa và quyết tâm ăn năn sám hối, khiêm nhường nhìn nhận mình là tội nhân, chừa thói hư tật xấu và quyết tâm thay đổi đời sống.

Thứ 5 sau CN I MC (22/02)

Lập Tông tòa Thánh Phêrô (Mt 16, 13-19)

Kính lạy Chúa Giêsu Thánh Thể.

Mùa xuân mang lại một sức sống mới cho mọi vật, mọi loài, mọi người, mọi thực tại trong cuộc sống. Giáo Hội là một thực tại và Giáo Hội cũng có những mùa xuân riêng của mình. Những mùa xuân này mang lại cho Giáo Hội những vận hội mới và diện mạo mới đầy sức sống. Đó là mùa xuân năm 33 khi Chúa sai các tông đồ ra đi rao giảng Tin Mừng- là ngày khai sinh của Giáo Hội; là mùa xuân năm 323 khi hoàng đế Constantine cho phép đạo Chúa được tự do hoạt động, mở ra một thời kỳ mới – thời kỳ công khai và phát triển; là mùa xuân của những năm 1209 và 1216 khi hai thánh Phanxicô và Đa Minh lập hai dòng tu lớn đưa giáo hội ra khỏi tình trạng xa hoa, suy đồi để trở về với tinh thần nghèo khó và dấn thân Tin Mừng. Và gần đây là mùa xuân năm 1898 khi cuốn Truyện Một Tâm Hồn của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu được xuất bản lần đầu tiên, đã đưa con người ra khỏi những ảnh hưởng sai lạc của phái Jansen coi Thiên Chúa là một quan tòa công thẳng và nghiêm khắc để trở về với một vị Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, đồng thời cũng khơi lên lòng mộ mến đời sống thánh hiến lớn lao và ước ao sống một cuộc đời thánh thiện nơi các tín hữu (x. nội san liên tu sĩ thành phố số 61). Lạy Chúa, Giáo Hội chính Chúa lập ra đã trải qua biết bao thăng trầm và biến chuyển. Có những lúc Giáo Hội tưởng chừng như tiêu tan, hoặc sa lầy, hoặc quỵ ngã nhưng Giáo Hội ấy luôn bền vững trường tồn, vì “được xây dựng trên Đá Tảng Phêrô và các Tông Đồ, không thể bị hủy diệt, được gìn giữ một cách không thể sai lầm trong chân lý, muôn đời không có gì lay chuyển được, ngay cả “quyền lực tử thần cũng không thắng được”( GL HTCG số 869). Giáo Hội trải qua bao mùa xuân như với những đổi mới như dấu chỉ của tình thương và ơn cứu độ của Chúa giữa lòng thế giới. Lặng quỳ trước sự hiện diện linh thiêng của Chúa trong bí tích tình yêu để thay cho các thành phần trong toàn thể Hội Thánh, chúng con không chỉ cúi mình nhưng hoàn toàn quy hướng cõi lòng chúng con về Chúa. Xin cho chúng con biết khiêm tốn quỳ thờ lạy, ca khen, chúc tụng Thánh Thể tình yêu Chúa.

Lạy Chúa, cùng với Thánh Phêrô, chúng con tuyên xưng Chúa là Đấng Cứu Thế, là con Chúa Cha hằng sống. Chỉ mình Chúa có đủ quyền năng cứu độ thế giới, chỉ có Phúc Âm Chúa là ánh sáng dẫn dắt chúng con tới cuộc sống đích thực. Xin cho chúng con biết yêu mến và trung thành với Hội Thánh qua lối sống chứng tá của mình để làm cho Hội Thánh Chúa mỗi ngày một tốt đẹp và thánh thiện hơn.

Thứ 6 sau CN I MC (23/02)

Mt 5, 20-26

Kính lạy Chúa Giêsu Thánh Thể.

Trong cuộc sống, có nhiều cuộc hành trình đến với những điều mới lạ, kỳ thú. Nhưng những cuộc hành trình ấy sẽ không có ý nghĩa nếu không phát xuất từ con tim tràn đầy yêu thương và luôn rộng mở. Bước đi trên hành trình dâng hiến, chúng con cũng được mời gọi đến với con đường mang tên Giêsu – một con đường luôn mở rộng thênh thang, một con đường dẫn tới hạnh phúc viên mãn giữa muôn vạn nẻo đường khác nhau. Đường yêu thương cho chúng con gặp nhau, cùng chung bước đến an vui, sống gần nhau và sống vì nhau, để không còn xa lìa; chấp nhận nhau dù khác biệt nhau, giúp nhau qua khổ đau. (trích bài hát con đường Giêsu). Và giờ đây, con đường ấy được nối dài và nới rộng mãi nơi Bí Tích Thánh Thể. Chúng con tạ ơn Chúa đã mạc khải cho chúng con biết con đường yêu thương và cũng nhờ bước đi bên nhau mà chúng con được quy tụ nơi đây trước Thánh Thể Chúa, chúng con xin được cùng cất lời ngợi ca, tôn vinh và thờ lạy Chúa – Đấng là Đường, là Sự Thật, và là sự sống.

Quả là một cuộc sống tràn đầy hạnh phúc khi chúng con sống theo con đường tình yêu của Chúa, thế nhưng với thân phận con người mỏng dòn và yếu đuối, có biết bao lần chúng con đã xúc phạm nhau và làm tổn thương đến nhau. Tác giả đã từng nhận xét: “Yêu là lấy thiện thắng ác, lấy tha thứ hóa giải hận thù. Tha thứ không phải là thái độ hèn nhát quên đi lỗi lầm của người khác nhưng là chấp nhận họ để cả hai cùng được lớn lên trong ân sủng”(chút gì với Chúa tr.169). Thực hành lời Chúa không phải là điều dễ, bởi lẽ chúng con còn mang nặng thói ích kỷ, khó lòng tha thứ cho người khác khi họ có điều bất hòa với chúng con. Vậy mà Chúa đã đi bước trước và nêu gương cho chúng con khi hết lòng tha thứ cho nhóm biệt phái đã nhiều lần giăng bẫy để hại Người. Chúa còn tiếp đón người tội lỗi, cầu nguyện cho kẻ ngược đãi và hiến thân mình cứu chuộc chúng con. Mùa chay là cơ hội để chúng con nhìn lại mối tương quan với Chúa và với tha nhân. Xin cho chúng con biết “yêu mến và tích cực xây dựng cộng đoàn mình đang sống như chính gia đình của mình, thông cảm, bác ái và chấp nhận một sự phân công khác biệt để mưu ích cho mỗi người và cho cộng đoàn” như Hiến Pháp Dòng điều 53 mời gọi.

Thứ 7 sau CN I MC (24/02)

Mt 5, 43-48

Kính lạy Chúa Giêsu Thánh Thể.

Mahatma Gandhi,một nhà ái quốc Ấn Độ đã dùng bất bạo động mà thu hồi được độc lập cho quốc gia mình. Khi được tiếp xúc với Kitô giáo, ông đã đọc Phúc Âm thường xuyên và rất say mê Chúa Kitô, đặc biệt ông thán phục bản hiến chương Tám mối phúc và lấy đó làm nguồn cảm hứng cho thuyết bất bạo động của ông, một lý thuyết mang đẫm tinh thần của Tám mối phúc. Tuy nhiên, có lần ông đã tâm sự với người thân cận rằng dù thán phục giáo lý của Chúa Kitô, nhưng ông không thể trở thành kẻ tin Chúa, vì ông thấy có quá nhiều người Kitô hữu đã không sống Tám mối phúc thật của Chúa. Ông nói: “Tôi yêu mến Chúa Kitô, nhưng tôi ghét người Kitô, vì họ không giống Chúa Kitô”. Nhận xét của Mahatma Gandhu trên đây là một cảnh tỉnh cho về ơn gọi và trách nhiệm của chúng con. Là những người Kitô hữu, chúng con phải giống như Chúa, phải có những tâm tình tư bi, nhân hâu, yêu thương như Ngài. Thánh Phaolô đã diễn tả lý tưởng trọn hảo nhất của đời sống Kitô hữu: “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi.”(Gal 2,20). Khi rao giảng Tin Mừng, Chúa đã mời gọi chúng con sống trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành và Chúa là mẫu mực của sự trọn lành và chỉ có Chúa mới thể hiện trọn vẹn lòng nhân từ của Thiên Chúa. Chúa đã tóm gọn cả cuộc sống Kitô hữu bằng lời mời gọi: “hãy theo Ta”, nghĩa là hãy sống như Chúa, sống bằng chính sức sống của Chúa. Quỳ trước Thánh Thể Chúa, chúng con xin dâng hết cả tự do, trí nhớ, trí hiểu và toàn bộ con người mình để được Chúa uốn nắn, dạy dỗ qua khuôn mẫu hoàn thiện trong Bí tích Thánh Thể. Chúng con xin chúc tụng, ngợi khen và tán tạ tình yêu Chúa.

Lạy Chúa,mỗi người chúng con trong đời sống thánh hiến không những được mời gọi chiêm ngưỡng  vinh quang và làm chứng cho dung nhan biến hình của Đức Kitô, nhưng cũng được kêu gọi sống một cuộc đời được biến hình. Xin cho chúng con biết rèn luyện bản thân mỗi ngày để trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa bằng một cuộc gắn bó triệt để.  Xin cho chúng con cũng luôn ký thác mình cho tình yêu Thiên Chúa và hiến mình hoàn toàn cho Người và cho chương trình cứu độ của Người.

 Lm. Huệ Minh 



Được tạo bởi Blogger.